Ý nghĩa kinh mân côi? Vẻ đẹp của kinh mân côi?

Lịch sử của kinh mân côi là gì và ý nghĩa của việc đọc kinh lần chuỗi mân côi cầu nguyện hằng ngày, đem chúng ta đến gần với chúa hơn.

Chữ “Mân Côi” có nghĩa là “Hoa Hồng”, do tích truyện một thầy tu khi đọc kinh Kính Mừng, Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi của thầy tu ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình. Sự hình thành chuỗi Mân Côi có một lịch sử lâu dài.
KINH MÂN CÔI

LỊCH SỬ KINH MÂN CÔI

Kinh mân côi nguyên tiếng Latinh là Rosarium, tiếng Anh, tiếng Pháp là Rose là hoa hồng tượng trương kinh Kính mừng kết thành vòng hoa thiêng dâng kính Đức Mẹ như cổ thời Hylạp, và một số nước hiện nay, người ta làm vòng hoa tươi treo vào cổ trao tặng nhau. Trước kia người ta đếm kinh bằng hạt sỏi, dần dần người ta kết những hạt khác thành chuỗi Mân côi gọi là Rosary.

Thế kỷ XII, 150 Thánh vịnh David dài quá đối với nhiều người không thể đọc được, nên người ta đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Dần dần người ta đọc 150 kinh Kính Mừng thay 150 kinh Lạy Cha. Do đó Thánh Đaminh gọi là “Thánh vịnh Đức Mẹ”. Sau này Đức Sixtô IV gọi tắt là “Thánh vịnh”.

Bắt đầu kinh Kính mừng chỉ gồm có lời chào của thiên sứ Gabrie: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng Bà” (Lc 1:28), rồi được thêm lời chào của bà Thánh Elizabeth: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Con lòng Bà gồm phúc lạ” (Lc 1:42). Cũng trong thế kỷ XII, Đức Mẹ hiện ra trao truyền tràng hạt Mân côi cho Thánh Đaminh để cải hoá bè rối Albigensê đang tung hoành ở phía nam nước Pháp. Sang thế kỷ XIII, đời Đức Urbanô IV, Thánh Danh “Giêsu” được thêm vào.

Thời đó người ta đọc 150 kinh Kính mừng cùng với 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi kinh Kính mừng một kinh Lạy Cha. Đến thế kỷ XIV, thầy Henry Kalkar (1328-1408), dòng Carthusian do Thánh Brunô sáng lập, chia 150 kinh Kính mừng thành từng chục (10) mỗi chục một kinh Lạy Cha. Thế kỷ XV, Cha Đaminh Prussia (1384-1460) cũng dòng Carthusian chia 150 Kinh Kính mừng thành 3 chỗi 50. Cũng trong thế kỷ này, Chân phúc Alanô de la Roche hay là De Rupe thêm phần suy niệm các mầu nhiệm trong khi lần chuỗi. Từ nay tràng kinh Mân côi gọi là “Vòng hoa hồng”. Chân phúc Alanô nhiệt thành phổ biến kinh Mân côi mà Đức Mẹ đã trao truyền cho Thánh Đaminh. Chân phúc Alanô thành lập Hội Mân côi năm 1480 và được Đức Mẹ hứa ban 15 ơn cho những ai trung thành đọc kinh Mân côi. Năm 1521, cha Albertô da Castello, O.P., sửa lại mỗi kinh Lạy Cha với một mầu nhiệm. Năm 1569, Đức Thánh Piô V với bửu sắc “Consueverent Romani Pontifices” thêm phần thứ hai kinh Kính mừng: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời…” với kinh Sáng danh, và ấn định kinh Mân côi như chúng ta đọc ngày nay.

B. VẼ TUYỆT DIỆU CỦA KINH MÂN CÔI

Vẻ tuyệt diệu Kinh mân côi gồm hai phần như linh hồn và xác Kinh mân côi.
1. Suy ngắm những mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu thế và cuộc đời Đức Mẹ. Trước kia người ta đọc Thánh vịnh Đức Mẹ là 150 kinh Kính mừng và suy ngắm 150 mầu nhiệm. Nhưng rồi 150 mầu nhiệm được rút lại 15 mầu nhiệm cho 15 chục kinh. 15 mầu nhiệm như là bản tóm Phúc âm nhắc nhớ Đức Mẹ đồng công với Chúa Kitô trong việc Cứu chuộc loài người từ biến cố mầu nhiệm Nhập thể tới mầu nhiệm Cứu chuộc. Do đó kinh Mân côi bắt nguồn từ bản tính Phúc âm và dẫn ta tới Phúc âm. Phần suy niệm 15 mầu nhiệm chia làm 3 phần vui, thương, mừng là linh hồn kinh Mân côi. Nếu đọc kinh Mân côi mà không suy niệm mầu nhiệm, kinh Mân côi sẽ chỉ có xác mà không có hồn. Đức Mẹ Fatima dạy rõ: “Đọc kinh Mân côi và suy ngắm mầu nhiệm”.

KINH MÂN CÔI

2. Phần kinh đọc gồm:
a. Kinh Lạy Cha là kinh cầu nguyện chính Chúa Giêsu đã dạy.
b. Kinh Kính mừng là lời thiên sứ Gabriê và lời Thánh Elizabeth chào chúc Đức Mẹ (Lc 1:28, 41-42). Kinh Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời do Đức Thánh Piô V thêm vào năm 1569.
c. Kinh Sáng Danh cũng được ngài thêm vào.
Nói chung kinh Mân côi tuyệt diệu vì bắt nguồn từ trời cao, chính Đức Mẹ đã phán dạy và các đức Giáo Hoàng, kể từ Đức Thánh Piô V đã không ngừng khuyến khích và dòng Thánh Đaminh đã nhiệt thành turyền bá sâu rộng.

C. THẦN LỰC KINH MÂN CÔI

Ngoài những ơn lạ Đức Mẹ ban nhờ thần lực của kinh Mân côi về phần hồn cũng như phần xác, lịch sử Giáo hội đã ghi lại 3 cuộc chiến thắng oanh liệt của Kinh Mân côi:

1. Đầu thế kỷ XII bè rối Albigensê nổi lên miền nam nước Pháp gieo lầm than và đau khổ cho dân nước Pháp. Mọi cố gắng của đạo và đời ngăn chặn bè rối tác hại này đã vô hiệu. Thánh Đaminh đứng ra khấn xin Đức Mẹ soi sáng cách nào để cứu vớt những tâm hồn sai lạc. Đức Mẹ đã hiện ra với ngài, Mẹ cầm một chuỗi Mân côi, dạy ngài cách đọc Kinh Mân côi và truyền cho ngài rao giảng như một phương thuốc linh nghiệm ngăn ngừa tội lỗi và sự lầm lạc. Quả nhiên, hơn 100 ngàn kẻ rối đạo đã từ bỏ sự lầm lạc, và rất nhiều người được thêm phấn khởi sốt sắng đọc kinh Mân côi.

KINH MÂN CÔI

2. Thế kỷ XVI quân Hồi Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh, đe doạ xâm chiến toàn vùng miền đất Công giáo Âu châu. Trước mối nguy cơ đó, Đức Thánh Piô V truyền lệnh cho các giáo phận tổ chức một nghi thức cầu nguyện gọi là “việc cầu nguyện 40 giờ” gồm các cuộc cung nghinh Đức Mẹ và đọc kinh Mân côi. Khi thuỷ quân của Hồi giáo xuống vịnh Lépante để tràn sang Âu châu, và trong khi đô đốc Don Juan người nước Áo chỉ huy hải quân Công giáo ra nghinh chiến, Đức Thánh Piô V cùng với tòan thể giáo dân rước kiệu Mẹ và đọc Kinh Mân côi cầu cho các chiến sĩ Công giáo chiến thắng. Bỗng nhiên, tại vịnh Lépante gió đổi chiều làm lợi điểm cho các chiến hạm Công giáo ào ạt tấn công đánh chìm các chiến hạm Hồi giáo, làm cho bọn họ hoàn toàn bại trận ngày Chúa nhật 7-10-1571 . Nói về cuộc chiến thắng vịnh Lépante nhờ Đức Mẹ Mân Côi, Đức Piô XI viết: “Khi quân lực Hồi giáo kiêu hùng với những chiến thuyền hùng mạnh đe doạ khắp các nước Công giáo Âu châu, Đức Giáo hoàng (Thánh Piô V) kêu gọi tất cả giáo dân sốt sắng khấn xin Mẹ lành trợ lực, địch quân bị bại trận, các chiến thuyền của họ bị đánh chìm”.

3. Sau cuộc chiến thắng vịnh Lépante, đạo binh Công giáo còn chiến thắng Hồi quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hy lạp đời Đức Clêmentê XI.

D. CHÍNH ĐỨC MẸ ĐÃ PHÁN DẠY

* Mẹ Maria phán dạy Chân phước Alanô: “Bất cứ ai trung thành đọc kinh Mân côi và suy ngắm những mầu nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết. Điều đó rất dễ đối với Mẹ, vì Mẹ là Mẹ Vua Trời và Người gọi Mẹ là Đấng đầy ơn. Và vì đầy ơn, Mẹ có thể ban phát ơn phúc cho các con cái dấu yêu của Mẹ”.

* Tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra với Bernađetta, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải, và đọc kinh Mân côi với Bernađetta.

* Tại Fatima, Đức mẹ hiện ra với 3 trẻ em Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức Mẹ đều thúc giục: “Các con hãy tiếp tục đọc kinh Mân côi hằng ngày”. Ngày 13 tháng 10, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”.

KINH MÂN CÔI

E. CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG KHUYÊN DẠY

Từ khi Đức Mẹ trao truyền Thánh Đaminh và chân phước Alanô rao giảng Kinh Mân côi, rất nhiều Đức Giáo Hoàng khuyên dạy và khích lệ. Nhất là các Đức Giáo Hoàng: Đức Lêô X, Đức Thánh Piô V, Đức Gregoriô XIII, Đức Sixtô V, Đức Clementê VIII, Đức Alexandrô VII, Đức Clementê IX, Đức Clementê X, Đức Innocentê XI, Đức Benedictô XIII, Đức Benedictô XIV, Đức Clementê XIX, Đức Piô VII, Đức Piô IX, Đức Lêô XIII, Đức Benedictô XV, và Đức Piô XI. Đáng kể nhất là Đức Lêô XIII đã được gọi là Đức Giáo hoàng của kinh Mân côi vì riêng ngài đã ban hành 9 thông điệp và 3 tông thư về kinh Mân côi. Sau các ngài, đáng kể có Đức Piô XII, Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II.

Đọc kinh mân côi đem đến điều gì?